Thêm một gia đình người Việt tị nạn được đoàn tụ tại Canada

Vào hôm 20 tháng Ba vừa qua, hai anh em Gia Huy và Nhật Huy đã được đoàn tụ cùng cha sau 13 năm xa cách.

Nhờ vào nỗ lực không biết mệt mỏi của cô Đoàn Nguyên Chi, cùng VOICE Canada mà hồ sơ của 2 anh em đã được hoàn tất trong vòng 7 tháng.

VOICE xin gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến gia đình và mong cho tương lai của Gia Huy và Nhật Huy sẽ luôn có thật nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Them-mot-gia-dinh-nguoi-viet-ti-nan-duoc-doan-tu-tai-Canada-VOICE-VIETNAM-3

Them-mot-gia-dinh-nguoi-viet-ti-nan-duoc-doan-tu-tai-Canada-VOICE-VIETNAM

Them-mot-gia-dinh-nguoi-viet-ti-nan-duoc-doan-tu-tai-Canada-VOICE-VIETNAM-2

Giáng sinh trong tù

Trong lúc hàng triệu người Việt ở trong nước, cũng như tại hải ngoại. Không phân biệt tôn giáo, hầu như mọi người đều tưng bừng, nô nức chào đón Giáng sinh 2018. Nhưng ít ai ngờ được rằng hàng trăm tù nhân lương tâm vẫn kiên trì cầm hơi, chịu đựng tại các trại giam ở trong nước. Họ là những người đi tù vì quê hương! Trong khi đó, tại hải ngoại, cũng có hàng trăm người Việt tỵ nạn đang âm thầm bị giam giữ trong các trại tù di trú ở Thái Lan. Họ là những người đi tù vì hai chữ tự do.

Những người Việt và Thượng đang bị cảnh sát Thái bắt giữ (Nguồn: vietbao.com)

Theo như báo cáo của các thiện nguyện viên tại Bangkok thì hiện có khoảng gần 130 người tỵ nạn đang bị bắt giữ trong trại giam của sở di trú Thái Lan, Immigration Detention Center (IDC), gồm có cả người Việt lẫn đồng bào thiểu số. Dù nhiều người trong đó cũng đã được Cao Ủy Liên Hiệp Quốc cấp cho quy chế “tỵ nạn”. Họ đang sống trong lo âu và vô vọng. Không biết khi nào sẽ được thả và cũng chẳng biết niềm hy vọng mong manh, một ngày nào đó được định cư ở đất nước tự do có đến với họ hay không? Nhưng trước mắt hiện nay là phải đối diện với thiếu thốn, khổ đau và chia cách! Chính phủ Thái Lan giam giữ họ riêng biệt, và Giáng sinh năm nay là một Giáng sinh buồn. Chồng ở một nơi, vợ một nẻo và các con thì bị nhốt tại một địa điểm khác.

Mặc dù 2018 là một trong những năm mà người Việt tại hải ngoại rất quan tâm, cũng như để ý đến hoàn cảnh của hơn một ngàn người Việt tỵ nạn đang sống vất vưởng ở Thái Lan. Nhiều buổi nhạc hội gây quỹ trợ giúp đã được tổ chức tại nhiều nơi và gần đây nhất, vào những ngày cuối năm. Theo sau ba buổi “Chợ Đêm” của cộng đồng người Việt tại Houston, Texas, thì anh chị em trong nhóm Hoài Việt cùng đồng hương chúng ta tại Philadelphia cũng như Cộng Đoàn Thánh Tâm và đồng bào VN ở thành phố Dayton, Ohio cũng đã tự nguyện thực hiện các buổi quyên góp giúp người tỵ nạn. Nhưng tất cả đều tập trung vào quỹ định cư theo điều kiện mà chính phủ Canada đòi hỏi qua chương trình “Private Sponsorship” mà tổ chức VOICE tại Canada đang nỗ lực tiến hành với dự trù là sẽ phải có khoảng $700 ngàn dollars, để giúp cho 50 đồng bào trong danh sách đầu tiên được đến bến bờ tự do

Cũng chính vì thế mà Giáng sinh năm nay dường như ít có tổ chức nào để ý đến hoàn cảnh của hàng trăm trẻ em tỵ nạn cùng những người đang sống tại các trại giam di trú. Theo danh sách mà chúng tôi nhận được thì hiện có 65 người đàn ông, 23 phụ nữ và 44 trẻ em tỵ nạn đang bị giam giữ tại IDC. Còn ở bên ngoài thì hiện có khoảng gần 500 trẻ em, gồm cả người Việt gốc H’Mong, Khmer cũng như người Việt thuần túy sống tản mác ở nhiều nơi. Cô Grace B., một thiện nguyện viên từ Mỹ đến giúp đỡ thì đang lo cho khoảng 135 em, đa số là người gốc Thượng. Còn về phía quý vị lãnh đạo tinh thần như mục sư Hòa, mục sư Pá, mục sư Thạch Sinh v..v.. thì đang giúp cho gần 300 em. Riêng phía cựu thuyền nhân tỵ nạn còn xót lại thì đa số tập trung về khu vực giáo phận do linh mục Peter Namwong cai quản và được cha tiếp tục giúp đỡ dù ngài rất thiếu thốn nhiều phương tiện.

Các trẻ em được cô Grace B. săn sóc. (Nguồn: vietbao.com)

Thôi thì của ít lòng nhiều, tôi đã cố gắng quyên góp trong phạm vi gia đình, anh chị em và một vài thân hữu để gởi chút quà cho những người thiếu may mắn hơn mình. Đặc biệt là hai cháu vừa ra trường và bắt đầu có việc làm. Tôi cũng muốn nhân dịp này để các cháu được chia sẻ những đồng tiền đầu tiên kiếm được trong đời cho các trẻ em bất hạnh hơn mình.

Các trẻ em tỵ nạn và những món quà Giáng sinh khiêm nhượng. (Nguồn: vietbao.com)

Đêm Giáng sinh, trong không khí đoàn tụ gia đình, tôi bất ngờ nhận được hai cú điện thoại từ trong trại giam di trú ở Bangkok, Thái Lan. Một của các tù nhân tỵ nạn trong khu phụ nữ, và một từ những người đàn ông, gọi để cám ơn vài món quà khiêm nhượng mà gia đình và bạn hữu chúng tôi gởi đến cho họ hầu tìm một chút ấm áp trong ngày Chúa ra đời. Tôi cũng buồn theo họ vì sự mất mát, chia lìa cùng nỗi lo lắng vì phải xa cách nhau trong một đêm mà cả thế gian đang quây quần, hạnh phúc bên gia đình. Lại càng buồn hơn khi qua video phone, tôi phải chứng kiến những giọt lệ tràn lên đôi mắt của những bà mẹ phải sống xa các con! Và có lẽ buồn nhất khi được biết tin anh Ngô Văn Bé, người thương phế binh xấu số, bị giam lâu năm đã vừa qua đời trong trại tù di trú, không kịp nhận món quà nhỏ bé của những người tri ân gởi đến!

Di ảnh thương phế binh Ngô Văn Bé (Nguồn: vietbao.com)

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước đây cũng bị giam tại IDC còn có một thương phế binh khác là anh Bùi Văn Quý, nhưng anh đã bị chính quyền Thái trả về Việt Nam vào tháng Bảy năm 2018, riêng chị Quý thì vẫn trốn ở lại Thái Lan.

Hàng chục ngàn đồng hương ở Houston tham dự đêm gây quỹ định cư đồng bào tỵ nạn Việt Nam đang sống tại Thái Lan. (Nguồn: vietbao.com)

Tôi không biết mình sẽ phải làm gì để an ủi được họ trong lúc này? Có lẽ điều thực tế nhất là chuyển đến họ những lời thăm hỏi từ các đồng hương từ Hoa Kỳ, từ Canada, từ Úc hay các nước ở Âu Châu, chỗ nào cũng có người quan tâm đến họ và mong mỏi được hỗ trợ cũng như đón tiếp đồng bào ruột thịt của mình có cơ hội được định cư tại các đất nước tự do.

Nam Lộc (Thành viên Hội đồng Quản trị VOICE)
California, ngày cuối năm 2018

Thông báo của VOICE và VOICE Canada về vấn đề người tị nạn

Thông Báo của VOICE và VOICE Canada

09 September 2018

Đây là thông báo liên quan đến việc tổ chức VOICE và VOICE Canada dự tính sẽ giúp khoảng 15 gia đình tỵ nạn Việt Nam tại Thái Lan, bao gồm 50 người, được định cư tại Canada trong năm 2018 – 2019 thông qua hai chương trình bảo trợ tư nhân (private sponsorship program):

  • Group of Five. Mỗi hồ sơ/gia đình tỵ nạn (recognized refugee) phải có 5 người bảo trợ; và

  • Sponsorship Agreement Holder. VOICE Canada là tổ chức đã được Chính Phủ Canada chấp thuận đơn xin cho phép bảo trợ trực tiếp 6 người tầm trú (asylum seeker) trong năm 2018 bất kể họ có được Cao Uỷ Tỵ Nạn UNHCR công nhận là tỵ nạn hay không (con số này sẽ thay đổi mỗi năm tuỳ vào chính sách của Canada và khả năng tài chính của VOICE Canada sau này).

Xin thông báo đây chỉ là dự tính khởi đầu trong công việc giúp đỡ các gia đình tỵ nạn Việt Nam vì nó phải phụ thuộc vào bốn yếu tố chính:

  1. VOICE và VOICE Canada phải tìm cho đủ số người bảo trợ (ít nhất là 50 người Canada sẵn sàng cưu mang các gia đình tỵ nạn mới sang trong vòng 1 năm kể từ ngày họ đặt chân đến Canada).

  2. Số tiền bảo trợ chính phủ Canada buộc phải có trước khi đơn xin được chấp thuận. Mỗi người được tính sẽ tốn khoảng $12,500 đô Mỹ ($16,500 đô Canada – Xin xem Bản Hướng Dẫn của Bộ Di Trú Canada đính kèm).

  3. Số tiền cần phải có để trang trải mọi chi phí liên quan đến hồ sơ xin định cư (tiền nộp đơn, tiền đóng visa, tiền khám sức khoẻ, tiền vé máy bay, tiền đi lại trong nội địa, chi phí ăn uống, đi lại của các thiện nguyện viên, v.v…). Tổng cộng khoảng $3,000 cho đến $4,000 đô cho mỗi người (xin xem Bảng Hướng Dẫn đính kèm).

  4. Thời gian, công sức và khả năng của các thiện nguyện viên của VOICE và VOICE Canada vì đây là một công việc hoàn toàn thiện nguyện mà người tỵ nạn không phải trả bất kỳ khoản chi phí nào.

Vì những lý do trên, khả năng mà VOICE và VOICE Canada có thể giúp được một số gia đình tỵ nạn Việt Nam là rất nhỏ so với con số người Việt đang xin tỵ nạn tại Thái Lan được ước tính lên đến trên 1000 người. Cũng vì vậy mà VOICE và VOICE Canada chỉ sẽ cứu xét những trường hợp thương tâm nhất (most compelling cases) dựa trên 5 tiêu chí sau (được tính theo thứ tự từ 1 đến 5) đối với tất cả mọi trường hợp:

  1. Sự dấn thân, tranh đấu lúc còn trong nước và mức độ bị đàn áp sau đó.

  2. Khả năng bị bắt và mức độ nguy hiểm nếu bị trả về Việt Nam.

  3. Thời gian và hoàn cảnh từ lúc vượt biên sang Thái Lan xin tỵ nạn.

  4. Khả năng hội nhập vào xã hội Canada và sẽ không là gánh nặng cho người bảo trợ hoặc xã hội.

  5. Ảnh hưởng của việc giúp đỡ và lợi ích lan toả trong tương lai (social and potential benefits in the future). Thí dụ: hồ sơ có các trẻ em nhỏ sẽ được chú ý hơn.

Vì đây là một công việc sẽ tốn rất nhiều tiền bạc, công sức cũng như thời gian, VOICE và VOICE Canada khẩn thiết kêu gọi sự giúp đỡ của tất cả đồng bào ở khắp mọi nơi cũng như sự thông cảm, hiểu rõ vấn đề của tất cả mọi người liên quan, đặc biệt là những người Việt tỵ nạn tại Thái Lan.

Tuỳ vào sự thành công của chương trình này, trong tương lai VOICE và VOICE Canada sẽ tiếp tục công việc giúp đỡ người Việt tỵ nạn không chỉ ở Thái Lan mà còn ở những nơi khác vì đây là một công việc thiết thực, đầy ý nghĩa mà cộng đồng người Việt chúng ta cần phải làm.

Cảm ơn tất cả mọi người đã đọc thông báo này. Kèm theo đây là một số câu hỏi thông dụng và trả lời của chúng tôi. Nếu có ý kiến hoặc thắc mắc nào khác, xin vui lòng liên lạc chúng tôi qua email: contact@vietnamvoice.org.

Thân chào,

Đỗ Kỳ Anh

President

VOICE Canada

Trịnh Hội

Executive Director

 VOICE

Câu Hỏi và Trả Lời – FAQ (Frequently Asked Questions)

  1. Sự lựa chọn của VOICE và VOICE Canada có dựa trên khả năng tài chính, thu nhập của người tỵ nạn hoặc bạn bè, người thân của họ muốn giúp họ không?

Không. Một số người tỵ nạn có thể có bà con hoặc bạn bè hoặc chính họ cũng có thể tự xoay sở để trang trải một số chi phí và điều này sẽ làm cho công việc của VOICE và VOICE Canada dễ dàng hơn. Nhưng nếu làm như vậy thì sẽ không công bằng đối với những gia đình tỵ nạn hội đủ các tiêu chí trên nhưng không có khả năng tài chính vì vậy VOICE và VOICE Canada đã quyết định chỉ dựa trên 5 tiêu chí đã đưa ra.

  1. Chương trình bảo trợ tư nhân này khác gì so với những chương trình trước dành cho các thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam còn bị kẹt tại Thái Lan?

Có hơi khác. Các điều kiện bảo trợ và chi phí phát sinh do chính phủ Canada đưa ra cao hơn (thí dụ: chi phí resettlement costs tăng từ $11,800 lên $16,500 Canadian). Một điều khác biệt nữa là lần này ai cũng có thể nộp đơn xin được bảo trợ, là thuyền nhân trước đây hay chỉ mới sang Thái Lan xin tỵ nạn gần đây, miễn hội đủ các điều kiện.

Đây cũng là lần đầu tiên VOICE Canada được công nhận là một Tổ Chức Bảo Trợ (Sponsorship Agreement Holder) và có quyền trực tiếp bảo trợ 6 người trong năm 2018 mà không phải thông qua bất kỳ tổ chức nào như Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) chẳng hạn. Miễn là VOICE Canada có đủ khả năng tài chính và đồng ý làm giấy bảo trợ.

  1. Tại sao vẫn còn một số thuyền nhân bị kẹt tại Thái Lan mặc dù họ hội đủ điều kiện trước đây?

Bắt đầu từ năm 2014 khi VOICE và VOICE Canada giúp đỡ định cư một số thuyền nhân tại Thái Lan, đã có 2 lần chính phủ Canada trực tiếp phỏng vấn cứu xét hồ sơ xin định cư. Lần thứ nhất dựa trên list đệ trình của VOICE và Liên Hội Người Việt ở Canada thông qua tin tức do Cha Peter Namwong cung cấp vào năm 2006. Cha là người đỡ đầu nhiều thuyền nhân Việt Nam sau khi họ trốn trại để tránh không bị cưỡng bức hồi hương về Việt Nam trong thập niên 1990.

Lần thứ hai cũng dựa trên tin tức Cha Peter Namwong cung cấp trực tiếp cho Toà Đại Sứ Canada tại Bangkok nhân dịp nhóm thứ nhất được phỏng vấn vào năm 2015. Cha đã xin bổ sung một số hồ sơ vì trước đó những thuyền nhân này không giữ liên lạc với cha nên cha không biết hoặc không nhớ.

Kể từ đó cho đến nay, một số thuyền nhân khác đã liên lạc với cha xin được giúp đỡ, một số khác mặc dù có tên trên danh sách bổ sung nhưng đã quyết định không đi (nhưng bây giờ lại thay đổi ý kiến và muốn nộp đơn xin đi) và hiện nay vẫn còn hai trường hợp đang chờ kết quả kháng án sau khi bị từ chối.

Đây là một trong những lý do vì sao VOICE Canada đã quyết định nộp đơn xin làm Sponsorship Agreement Holder (Tổ Chức Bảo Trợ) để trong tương lai VOICE Canada có thể tiếp tục giúp đỡ người Việt tỵ nạn bất kể họ có là thuyền nhân trước đây, hay không được UNHCR công nhận là tỵ nạn.

  1. Nếu năm nay không được chọn thì năm sau có thể nộp đơn xin lại không?

Được.

  1. Ai là người cuối cùng đưa ra quyết định chọn hay không chọn để giúp đỡ?

VOICE và VOICE Canada làm việc chung với nhau trong quá trình xét duyệt xem hồ sơ nào nên được ưu tiên giúp đỡ. Các thiện nguyện viên của VOICE trực tiếp gặp và phỏng vấn người Việt tỵ nạn tại Thái Lan và sau đó lập hồ sơ đề nghị (recommendation) lên giám đốc của hai tổ chức là Ông Đỗ Kỳ Anh và Trịnh Hội. Sau khi bàn thảo với những người liên quan (Board members, sponsors, VOICE affiliates), hai người cùng đưa ra quyết định cuối cùng.

  1. Có ai hiện đang làm việc cho VOICE hay VOICE Canada có bà con hay người thân là người Việt tỵ nạn tại Thái Lan không?

Không.

  1. Nếu như có trên 1000 người Việt tỵ nạn ở Thái Lan mà VOICE và VOICE Canada chỉ có thể giúp được một số người thì biết đến bao giờ chúng ta mới giúp được tất cả?

Đây là lý do tại sao công việc chính cũng như trọng tâm của VOICE là giúp phát triển xã hội dân sự Việt Nam. Vì chỉ khi nào nhà nước Việt Nam tôn trọng nhân quyền, không đàn áp, đánh đập, bỏ tù những người bất đồng chính kiến thì khi ấy câu chuyện tỵ nạn Việt Nam mới chấm dứt.

Riêng bây giờ, tuy biết là chỉ có thể giúp được một số gia đình và công việc này đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, nhưng không vì thế mà VOICE và VOICE Canada không giúp. Đã, đang và sẽ có rất nhiều người Việt tỵ nạn cần được giúp đỡ và chúng tôi sẽ cố gắng hết sức trong khả năng của mình.

Xem bản chính thức tại đây: Thông báo của VOICE và VOICE Canada về vấn đề người tị nạn

Thông báo của VOICE và VOICE Canada về vấn đề người tị nạn

Trò chuyện về công việc tị nạn cùng chủ tịch VOICE Canada

Nhân sự kiện gia đình Syria thứ tư được VOICE Canada bảo trợ đã đến Canada an toàn, chúng tôi có cuộc trò chuyện với anh Đỗ Kỳ Anh, chủ tịch VOICE Canada, để hiểu thêm về công việc của tổ chức.

VOICE: Em chào anh. Anh có thể giới thiệu một chút về VOICE Canada được không ạ?

A. Kỳ Anh: VOICE Canada được thành lập từ Tháng 10 năm 2014 để đón nhận những người Việt tị nạn đến từ Thái Lan sau khi được VOICE Thái Lan hỗ trợ pháp lý và được chấp nhận qua Canada. VOICE Canada gồm 5 thành viên trong ban điều hành.

VOICE: Tính đến nay VOICE Canada đã giúp đỡ được bao nhiêu người tái định cư?

A. Kỳ Anh: Đến nay VOICE Canada đã giúp tái định cư cho 108 người từ Thái Lan, ngoài ra có 4 gia đình Syria, mà gia đình cuối cùng vừa đến cách đây mấy ngày. Sự kiện em bé Syria chết trên bãi biển vài năm trước như đã đánh thức lương tâm nhân loại. Sau đó chính quyền Canada đã chấp thuận tiếp nhận khoảng 25.000 người Syria đồng thời kêu gọi các tổ chức cá nhân bảo trợ 25.000 người nữa, tức là khoảng 50.000. Và VOICE Canada quyết định bảo trợ cho 4 gia đình.

VOICE: Làm sao để mình biết được những gia đình này?

A. Kỳ Anh: mình tìm đến các tổ chức làm việc về người tị nạn, trong đó có tổ chức Lifeline Syria. Ở đó họ cho mình thông tin các gia đình này.

Gia đình Syria cuối cùng đã đến vùng đất an bình
Anh Đỗ Kỳ Anh, ngoài cùng bên phải, cùng VOICE Canada ra sân bay đón gia đình Syria đến nơi an toàn

VOICE: Anh có thể chia sẻ với mọi người về những khó khăn chính của VOICE Canada gặp phải trong quá trình làm việc về người tị nạn được không ạ?

A. Kỳ Anh: Có ba khó khăn chính. Thứ nhất là khi làm việc với người Syria, trong đơn xin tị nạn có 2 phần, một phần do bên bảo trợ điền, một phần do người xin tị nạn điền. Nhưng liên lạc với họ rất khó khăn, vì có khi họ còn đang ở Jordan. Lại thêm bất đồng ngôn ngữ nên đôi khi chỉ một thông tin thôi cũng mất rất nhiều thời gian mới lấy được.

Khó khăn thứ hai là về tài chính. Thường xuyên là thiếu tiền nhưng mà cũng cố gắng gây quỹ cho đủ. Để giúp cho một người tị nạn cần 5 người Canada bảo lãnh với số tiền đảm bảo khoảng 10.000 USD/năm. Cùng lúc phải lo chỗ ăn ở, hướng dẫn họ làm quen cuộc sống, tìm việc làm để không trở thành gánh nặng cho xã hội Canada.

Khó khăn nữa là về thời gian. Những thành viên của VOICE Canada đều là tham gia tình nguyện thành ra cần phải cân bằng giữa công việc chính, công việc thiện nguyện và cuộc sống riêng. Đôi khi cũng rất bận.

VOICE: Có kỷ niệm nào trong quá trình làm việc mà khiến anh ấn tượng mãi không ạ.

A. Kỳ Anh: Có nhiều ấn tượng lắm nhưng mình nhớ nhất là hai việc. Thứ nhất, cách đây vài năm có một gia đình do VOICE Canada bảo trợ đã xin được việc làm tại một trại nấm ở Vancouver. Trong gia đình này có một bé gái. Khi VOICE Canada tới thăm, thấy cô bé rất gày gò và nhút nhát, và thấy công việc của gia đình khó khăn quá nên VOICE Canada quyết định giúp họ chuyển đến Toronto. Cách đây không lâu khi gia đình đó đến nhà mình ăn lễ Giáng sinh. Cô bé đã thay đổi rất nhiều, cháu mặc một cái đầm, rất tự tin, vui vẻ và nói tiếng Anh lưu loát. Có những câu cô bé phát âm còn hay hơn mình nữa. Đúng là một người Canada thật rồi.

Ấn tượng thứ hai là từ sự hỗ trợ của cộng đồng. Các gia đình khi được bảo trợ qua đây họ cần nhiều thứ lắm, không chỉ công ăn việc làm mà cả mọi đồ đạc trong nhà. Thành ra, từ khi làm công việc này mình hay nhận được phone của nhiều người báo là họ thấy có chỗ này chỗ kia bỏ đồ ngoài đường mà vẫn còn dùng tốt, nếu mình cần họ sẽ đến lấy giúp. Họ đều là những người rất thành công và giúp đỡ VOICE Canada nhiều về tài chính nhưng đáng quý nhất là lúc nào họ cũng nhớ đến VOICE Canada và người tị nạn như thế. Mình rất vui khi nhận được những nghĩa cử như vậy.

VOICE: Rất xúc động với những tình cảm của cộng đồng dành cho VOICE Canada và người tị nạn. Câu hỏi cuối cùng em muốn dành cho anh là mong muốn của anh dành cho VOICE Canada trong thời gian tới là gì ạ?

A. Kỳ Anh: VOICE Canada đang giúp đỡ cho một nhóm người Việt tị nạn hiện đang ở Indonesia, đó là công việc sắp tới của VOICE Canada. Nhưng nói chung người Việt phải bỏ nước ra đi là vì họ còn đang bị đàn áp hoặc cuộc sống thiếu thốn ở quê hương. Cho nên anh mong một ngày VOICE Canada không cần làm việc về người tị nạn nữa vì khi đó có nghĩa là Việt Nam không còn đau khổ và không còn người Việt nào phải tị nạn nữa.

VOICE: Chúc VOICE Canada gặp nhiều thuận lợi trong những công việc sắp tới và mong muốn của anh sớm thành hiện thực. Cám ơn anh rất nhiều đã dành thời gian để tham gia buổi phỏng vấn ngày hôm nay.

Phỏng vấn nhà làm phim Đức Nguyễn: “Không còn gì để mất”

Thật sự thì không còn gì để mất là như thế nào? Có phải khi mà bộ da bên ngoài bọc lấy tấm thân vất vưởng sống còn – theo đúng nghĩa đen – là nơi nương náu còn lại duy nhất? Và chính nó lại bị đe dọa – bởi những vô định, bất chắc về nơi mình thuộc về, bởi những thiếu thốn và nguy hiểm thể xác, và trong nỗi sợ ai đó lấy đi bến neo của nó theo những cách không-phải-lúc-nào-cũng-nhìn-thấy đầy trĩu nặng, tâm can và cảm xúc? Những người tị nạn “vô quốc gia” trong những câu chuyện được khắc họa bởi nhà làm phim tài liệu Đức Nguyễn trong dự án mới nhất, Không Còn Gì Để Mất (Nothing Left to Lose), đều là những trường hợp rất-thường-xuyên bị bỏ qua trong khủng hoảng tị nạn. Một số họ đã chịu đựng hàng thập kỷ trong tình trạng vô định – của việc “vô quốc gia”.

Không Còn Gì Để Mất

diaCRITICS: Anh có thể giới thiệu sơ qua về nội dung phim tài liệu Không Còn Gì Để Mất cho mọi người được không? Điều gì truyền cảm hứng cho anh làm cuốn phim này?

Duc Nguyen:  Không Còn Gì Để Mất quan sát những mất mát của một người khi họ bị di tản sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam qua đi. Nó còn nói về sự lãng quên và tình yêu. Câu chuyện là về một nhóm khoảng 100 người Việt tị nạn đã sống ẩn trốn hơn 25 năm tại Thái Lan và cuối cùng có được một cơ hội để tìm mái ấm. Nó được kể lại thông qua cái nhìn của một bác sĩ từng là một đứa trẻ khi đến tị nạn tại Canada. Nhưng tuổi thơ của cô đã bị phá hỏng vì cha cô đã ruồng bỏ gia đình cả về tinh thần lẫn thể xác. Chúng tôi khai thác những tác động bên trong và cả bên ngoài của việc tản cư. Cảm giác mất đi mái ấm nó ra sao? Đây là chủ đề chính truyền cảm hứng cho tôi trong mọi việc. Nhưng câu chuyện này đặc biệt ở chỗ họ là những người đã mất mọi thứ, kể cả bản sắc riêng của mình với hi vọng được tái định cư tại phương Tây. Tôi bị hấp dẫn bởi việc họ tồn tại và xây dựng cuộc sống ở một nước khác mà không có một tình trạng pháp lý nào trong suốt một phần tư thế kỷ. Chỉ sự bền bỉ, mạnh mẽ sống một cuộc sống vô vọng lâu như thế đã là cả một nguồn cảm hứng rồi.

diaCRITICS: Phim của anh theo sát câu chuyện về một số người tị nạn Việt Nam “vô quốc gia”, một vài trong số họ đã bị mắc kẹt tại Thái Lan hàng thập kỷ. Cho những độc giả chưa xem bộ phim này, cũng như chưa quen với những câu chuyện thế này, anh có thể tóm tắt “vô quốc gia” nghĩa là gì không?  Những câu chuyện này có đặc biệt không (cụ thể là chúng có đặc biệt đối với việc di tản của người Việt không?) Có lí do phổ biến nào hay tại sao nó lại xảy ra với một số người tị nạn?

Mỗi trải nghiệm tị nạn đều có một lối rất riêng mà lối ấy có thể định đoạt số phận của người đó.

DUC NGUYEN: Một người vô quốc gia là người mà “không được xem là công dân của bất kỳ nước nào theo luật của nước đó.” Một số người vô quốc gia cũng là người tị nạn. Tuy nhiên, không phải tất cả những ai tị nạn đều vô quốc gia, và rất nhiều người vô quốc gia còn chưa bao giờ vượt qua biên giới nước khác nữa. Không phải máy móc, nhưng đây là định nghĩa từ Wikipedia. Trong trường hợp này, những người được phác họa trong Không Còn Gì Để Mất từng xin tư cách tị nạn, rồi họ trở thành người vô quốc gia sau khi đơn xin tị nạn của họ bị Cao Ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) từ chối vào những năm 1990. Thời điểm đó, để ngăn chặn dòng người tị nạn từ Đông Nam Á, UNHCR đã triển khai Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA). Bất kỳ người nào đến một quốc gia khác xin quy chế tị nạn sẽ đều phải trải qua những cuộc thanh lọc khắt khe. Nếu được công nhận là người tị nạn thì người đó sẽ được tái định cư tại một nước thứ 3. Nếu không thì họ buộc phải quay trở về Việt Nam. Vì trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đóng cửa, những người không xin được tư cách tị nạn bị cưỡng bức “hồi hương” về Việt Nam, hay cách nói giảm tránh của việc bị “trục xuất.” Nhóm người đặc biệt này đã chọn chạy trốn khỏi trại tị nạn, và ở lại Thái Lan bất hợp pháp. Mặc dù những câu chuyện của họ khá đặc biệt với việc tị nạn ở Đông Nam Á, nhưng đó cũng là một bài toán của hiện tượng di cư toàn cầu và nhập cư phổ biến hiện nay. Tôi từng làm một phim tài liệu nói về một nhóm người Việt Nam vô gia cư ở Philippines có tên là “Vô quốc gia” (Stateless). Họ cũng trải qua một số phận tương tự. Khi không thể là người tị nạn, họ đã quyết định ở lại Philippines trong 16 năm cho tới khi được chấp nhận vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những người ở Thái Lan thì khác. Bản sắc của nhiều người trong số họ đã bị mờ nhạt, như thể họ bị pha trộn giữa Việt Nam, Campuchia hay người Hoa. Và vì Thái Lan có địa giới với Campuchia, một vài người trong số họ thường xuyên bị bắt và trục xuất sang Campuchia. Những người tị nạn không quốc tịch ở Thái Lan thường mạo danh là người Campuchia để nếu bị trục xuất họ còn có cơ hội trở lại Thái Lan. Vì vậy, biên giới cũng đóng một vai trò trong con đường nhập cư của họ. Mỗi trải nghiệm tị nạn đều có một lối rất riêng mà lối ấy có thể định đoạt số phận của người đó. Thời điểm cũng là một yếu tố lớn. Nhưng quan trọng hơn cả là lòng trắc ẩn.

interview-with-filmmaker-duc-nguyen-nothing-left-to-lose_ Phong-van-nha-la-phim-Duc-Nguyen_Khong-con-gi-de-mat_VIETNAM-VOICE-2

diaCRITICS: Anh có thể chia sẻ một chút về quá trình, về nghiên cứu, và những mối quan hệ với những người tị nạn “vô quốc gia” trong câu chuyện mà anh theo đuổi không? Anh đã gặp họ ra sao? Mất bao lâu để thực hiện thước phim về những câu chuyện đó?

DUC NGUYEN: Tôi bắt đầu biết tới những người Việt vô quốc gia vào năm 2005 khi tôi đến Philippines để thực hiện bộ phim tài liệu đầu tiên “Bolinao 52”. Ở đây tôi gặp một số người và phỏng vấn họ trong khi họ đang được phỏng vấn bởi nhân viên di trú Hoa Kỳ về việc tái định cư. Tôi cũng được kết nối với anh Trịnh Hội, luật sư nhân quyền vận động cho việc tái định cư cho những người này. Năm đó, khoảng 2000 người Việt vô quốc gia tại Philippines được tái định cư tại Hoa Kỳ. Một số người không được đi Hoa Kỳ cũng đã tới Canada và một số quốc gia khác. Tôi dõi theo cuộc sống của một số người đến Mỹ tiến triển ra sao ở đất nước mới và rồi thành công dân Hoa Kỳ nữa. Điều đó trở thành tiền đề cho bộ phim tài liệu thứ hai của tôi – “Vô quốc gia.” Không lâu sau đó, Trịnh Hội được yêu cầu giúp đỡ một nhóm người ở Thái Lan. Mới đầu, anh miễn cưỡng từ chối. Nhưng về sau, anh quyết định giúp họ. Vào năm 2012, chúng tôi đến Canada và gặp Bộ trưởng Nhập cư, lúc đó là ông Jason Kenney. Ông ấy thấy được kết quả tích cực từ những người đến từ Philippines. Do đó, chính phủ Canada tạo ra một chương trình kín cho phép những người ở Thái Lan này đến Canada với điều kiện cộng đồng người Việt sẽ bảo trợ họ.  Điều này có nghĩa là những người vô quốc gia này phải được bảo lãnh bởi người có đủ năng lực tài chính để chi trả vé máy bay, phí nộp hồ sơ, phí xử lý và chi phí sinh hoạt cho một năm sau ngày đến. Thêm vào đó, cộng đồng cũng phải tìm nhà, việc làm, trường học và những công tác hậu cần cho những người này.  Sau đó Trịnh Hội đã tổ chức nhiều sự kiện gây quỹ trên thế giới và tìm cách đáp ứng đủ các yêu cầu cần thiết để đưa những người đã mất tổ quốc quá lâu được sang Canada từ Thái Lan. Ngoài mong đợi, những người từng là vô quốc gia ở Philippine hiện đã định cư tại Hoa Kỳ, Na Uy và Canada đã tập hợp lại, nỗ lực cùng gây các quỹ cần thiết để đưa đồng hương của mình đến trời Tây. Ở miền Nam California, tháng Giêng hàng năm họ đoàn tụ vào để gặp gỡ và bàn bạc kế hoạch đền đáp lại những điều mà họ đã được nhận, bằng cách tạo ra những cơ hội sống mới.

Tác động tâm lý chiến tranh là phổ biến và thấm vào những người từng trong cuộc chiến lẫn những người bên cạnh họ.

diaCRITICS: Quả là một nỗ lực tập thể tuyệt vời đáng có để hỗ trợ hợp lại trong công cuộc thiết lập những cuộc sống “mới”. Đâu là những thách thức đối với cá nhân anh trong việc thực hiện và truyền tải bộ phim này?

DUC NGUYEN: Thách thức lớn nhất trong khi làm phim, đối với phim này và cả những phim khác tôi từng làm, là tài chính. Làm phim tốn tiền, thời gian. Đối với bộ phim này thì cần phải tạo ra một dự án hỗn hợp trong đó kết hợp giữa các series truyền hình/phim tài liệu cá nhân. Chúng tôi mang theo cả đối tác lúc đó là nhà sản xuất series truyền hình về sức khỏe và lối sống trên các kênh truyền hình địa phương Việt Nam. Trịnh Hội là người đồng dẫn chương trình đó. Vậy nên khi chúng tôi quay phim ở các địa điểm, Bác sĩ Hannah Vũ, đồng sản xuất phim cũng quay luôn cho loạt phim truyền hình của cô và trả các khoản phí. Chúng tôi hầu như không có bất kỳ hỗ trợ tài chính nào khác ngoài nhóm người luôn ủng hộ chính của chúng tôi. Tôi đầu tư tiền của chính mình, các dụng cụ và thời gian vào việc dựng phim cùng với họ. Chúng tôi dự định sẽ hoàn thành nó vào năm 2015, đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày kết thúc Chiến tranh. Tuy nhiên lại bị thiếu vốn. Sau đó vào năm 2016, đài địa phương PBS ở miền Nam California đã liên lạc với tôi. Lúc đó họ đang tìm những thước phim từ góc độ Việt Nam cho phân đoạn series phim địa phương phát chung trong series truyền hình cực lớn của Ken Burns mang tên “Chiến tranh Việt Nam” (Vietnam War). Tất nhiên lúc đó tôi đã đề cử dự án có tên “Cuối Cùng Cũng Được Tự Do(Freedom At Last). Họ thích nó và nói rằng họ có thể sẽ cấp vốn để hoàn thành phim. Vài tháng sau đó, họ trở lại, nói rằng không có tài trợ nhưng họ vẫn quan tâm đến nó. Người quản lý chương trình đã gửi cho tôi một bức thư thể hiện sự quan tâm này. Không lâu sau đó, cô ấy trở lại và nói rằng để đài của họ đại diện cho bộ phim này, tôi sẽ phải trả một khoản phí. Thời điểm đó, người ủng hộ chính của chúng tôi, Trung tâm Truyền thông Mỹ – Á (CAAM) đã hỗ trợ nốt phần quỹ hoàn thành phim, người đồng sản xuất phim cũng góp một ít khoản quỹ thêm để hoàn thành bộ phim kịp lúc cho đợt ra mắt phim cùng với series của Ken Burns vào tháng Chín năm 2017. Các đài khắp nơi đều cần đưa những chương trình về Việt Nam vào thời gian phát sóng của họ dịp mùa Thu năm 2017 khi đài PBS quảng bá mạnh loạt phim Chiến tranh Việt Nam – Vietnam War của Ken Burns. Đấy là về làm phim. Còn về phát hành phim lại là một câu chuyện khác. Tôi thật sự không nghĩ rằng Không Còn Gì Để Mất sẽ có cơ hội được xem nếu như nó không phải là phim cùng với series của Ken Burns. Chương trình TV thường được lên kế hoạch, phân loại và lên lịch từ lâu. Series phim Chiến tranh Việt Nam của Ken Burns đã được lên kế hoạch hàng năm trời. Nó là sự kiện TV chính cho đài truyền hình PBS và các đài địa phương khắc họa những chương trình liên quan đến đề tài Chiến tranh Việt Nam. Những phim tài liệu cá nhân như Không Còn Gì Để Mất, đặc biệt là những câu chuyện về sắc tộc, thường không được phát sóng từ những kênh đó. Chúng thường được đưa vào Kênh Thế giới.

diaCRITICS: Có điều gì ngạc nhiên hay những phát hiện nào đáng để ăn mừng trong quá trình làm và phát hành phim này không?

DUC NGUYEN: Đôi khi, câu chuyện hấp dẫn nhất đã xảy ra ngay mũi mình trong khi mình lại đang bận rộn theo đuổi những câu chuyện ở nơi khác. Trong trường hợp của chúng tôi, điểm nhấn cảm xúc của phim lại thuộc về một trong những nhà sản xuất phim, vì nó được kể lại và tái hiện bởi chính người cùng làm phim với tôi, bác sĩ Hannah Vũ. Khi chúng tôi bắt đầu bấm máy vào năm 2012 ở Ottawa, Canada nơi cô ấy lớn lên, cô có nhắc tới rằng cha của cô vẫn sống ở đó dù cô đã được thuyên chuyển sang California một thời gian. Đó là tất cả những gì cô nói. Tôi đã băn khoăn là tại sao cô ấy không đến thăm cha mình trong chuyến đi ấy. Mãi về sau, trong khi sản xuất phim, cô mới tiết lộ mối quan hệ xa lạ của cô với cha cô. Cha của Bs. Vũ là một sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa, phụ trách một hạm đội quanh Sài Gòn trong chiến tranh. Khi kết thúc cuộc chiến, họ rời Việt Nam trong đợt sơ tán của Hoa Kỳ. Họ được bảo trợ định cư tại Canada. Bs. Vũ lớn lên mà không có sự hiện diện của một người cha. Với cô, cha vẫn ở cạnh đấy, nhưng ông chẳng hề quan tâm đến gia đình, không đưa họ đi nghỉ lễ, đi ăn ở ngoài hay chơi đùa với bọn trẻ. Trong buổi phỏng vấn, cô lặng lẽ lau nước mắt giải thích rằng khi còn nhỏ, cha cô bảo rằng cô không có lợi ích gì cho gia đình cả vì cô sẽ không mang tên của ông. Con của cô cũng không mang tên ông. Khi trưởng thành, cô muốn chứng minh rằng cha mình sai. Cô đã cố gắng học để tự tạo dựng cho mình một cái tên. Nhưng cô không nói cho ông biết suốt hơn 20 năm. Nhưng có lẽ bởi vì chứng kiến tình trạng khó khăn của những người vô quốc gia ở Thái Lan, cô có sự đồng cảm hơn với cha mình, đang sống cùng chứng giảm trí nhớ trong viện dưỡng lão. Bs. Vũ do đó cũng thay đổi cái nhìn về cha và chuẩn bị thủ tục đón ông về California nơi cô đang sinh sống.

NLTL-Hannah-Vu_interview-with-filmmaker-duc-nguyen-nothing-left-to-lose_ Phong-van-nha-la-phim-Duc-Nguyen_Khong-con-gi-de-mat_VIETNAM-VOICE
Dr. Hannah Vu

Điều làm tôi tò mò về câu chuyện này là Chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng đến người ta ở rất nhiều cấp độ. Nó để lại dấu vết không thể xóa nhòa đối với những người đã chiến đấu và cả những người vòng lửa đạn. Trường hợp của cha Bs. Vũ và rất nhiều cựu chiến binh miền Nam Việt Nam, thua cuộc là một thất bại chính với niềm tự hào của họ. Những người đủ may mắn để được tái định cư ở phương Tây tập trung lấy lại phẩm giá của họ thông qua làm việc cật lực. Đôi khi họ lãng quên gia đình mình. Tác động tâm lý chiến tranh là phổ biến và thấm vào những người từng trong cuộc chiến lẫn những người bên cạnh họ. Trong quá trình làm phim, tôi có cơ hội hiểu thêm một chút về những xung đột, quên lãng, hi vọng, tình yêu và mất mát trong bối cảnh thương vong của chiến tranh.

Cái tên hiện tại của bộ phim, Không Còn Gì Để Mất bắt nguồn từ lời bài hát Me and Bobby McGee của Kris Kristofferson: “Tự do là một từ khác cho sự không còn gì để mất.” Khi ta tìm kiếm tự do, ta có thể mất tất cả. Thật vậy.

diaCRITICS: Anh mong muốn người xem cảm được hay học được điều gì nhất khi xem phim này?

DUC NGUYEN: Có hai nhóm người tôi muốn họ xem phim này. Một là cộng đồng người Việt hải ngoại và nhóm khác là khán giả phổ thông. Nhóm người xem đầu tiên gồm cả cộng đồng người Việt tha hương, tôi muốn họ có một cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của người cha Việt Nam. Chúng ta thường hay nói về “Mẹ Việt Nam.” Nhưng phim này dành cho những người cha đã hi sinh cuộc sống của họ rất nhiều cho những gì ta có ngày nay. Rất nhiều trong số họ âm thầm qua đời, mang theo trong họ nỗi buồn của chiến bại. Như đã nêu, câu chuyện của Bs. Vũ trong phim và cha của cô là một điều bất ngờ. Tuy nhiên thì câu chuyện xa lạ với chính cha mình của cô được mở ra như một tiến trình chữa lành cho cô, và cho bộ phim. Tôi thấy rằng nỗi đau của rất nhiều người đàn ông phụng sự cho quân đội miền Nam Việt Nam đang mang phải được thảo luận trong một cuộc thảo luận mở thay vì nằm phía sau những cánh cửa đóng. Câu chuyện của họ cần được kể lại.

Đối với nhóm thứ hai, tức khán giả phổ thông, ý niệm về mái ấm và quốc tịch, tư cách công dân là những chủ đề trước hết. Khi mà cuộc tranh luận về nhập cư tiếp tục dậy sóng trên truyền thông, chúng ta cần phải nhìn vào đặc quyền được có tư cách công dân ở một quốc gia nào đó, bất kỳ quốc gia nào. Những quyền con người căn bản của bạn như đi lại, sống, học tập, sở hữu lại được quyết định bởi một văn bản mà bạn phải có là một điều phi lý. Việc không có giấy tờ không có nghĩa là bạn bị tước hết các quyền. Nhất là trong thời kỳ mà những người không có giấy tờ và những tội phạm cũ đang bị săn lùng, bị trục xuất về nước, là những người sống vô quốc gia, bất hợp pháp hay không giấy tờ lại thêm một lần nữa bị đối xử vô nhân đạo.

interview-with-filmmaker-duc-nguyen-nothing-left-to-lose_ Phong-van-nha-la-phim-Duc-Nguyen_Khong-con-gi-de-mat_VIETNAM-VOICE_3

Xem Trailer của phim

Website phim Không còn gì để mất (Nothing Left To Lose ): http://nothingleft2lose.com

TIỂU SỬ KHÁCH MỜI

—————-

Những bộ phim tài liệu của Đức Nguyễn, một người đoạt giải Emmy, nói về các chủ đề mái ấm, di dân, chiến tranh, mâu thuẫn lịch sử và hòa giải. Tác phẩm của ông gồm có, Thực tế Trung gian (Mediated Reality), một bộ phim tài liệu về trò-giằng-kéo giữa Mỹ và Cuba lên một đứa bé 6 tuổi Elian Gonzalez. Bolinao 52, bộ phim tài liệu về cuộc hành trình xấu số của thuyền tị nạn Việt Nam, tác phẩm sau này đoạt 2 Giải thưởng EMMY vùng Bắc California (2009) cho Thành tựu Xuất sắc về Phim tài liệu và Phối nhạc Xuất sắc. Vô quốc gia (Stateless), phim tài liệu về một nhóm người Việt bị kẹt lại Philippine, không nhà trong 16 năm, đã thắng Giải Khán giả Bình chọn và Giải Nổi bật trong Liên hoan phim Quốc tế Việt Nam năm 2013. Vào năm 2017, Đức đã sản xuất, chỉ đạo, biên tập phần thứ 3 của bộ ba tác phẩm về thuyền nhân Việt Nam, Không Còn Gì Để Mất. Phim kể về câu chuyện của gần 100 người tị nạn Việt Nam có những mảnh đời lẩn trốn trong suốt 25 năm hi vọng một ngày được lấy lại phẩm giá khi được công nhận là một con người.

Nguồn bài viết từ diaCRITICS

Trò chuyện cùng Cha Peter Namwong

Mời quý vị và các bạn theo dõi cuộc trò chuyện với Cha Peter Namwong của Giám đốc Điều hành VOICE Trịnh Hội. Cha Peter Namwong là ân nhân của hàng ngàn thuyền nhân Việt Nam tại Thái Lan. Cha đi tu từ năm 10 tuổi và thụ phong linh mục từ năm 1972 lúc cha chỉ mới 29 tuổi.

Bắt đầu làm việc trong các trại tỵ nạn từ năm 1976, có thể nói cha là người đã giúp cho nhiều người Việt tỵ nạn nhất ở Đông Nam Á. Vì cho đến bây giờ cha vẫn còn đang làm công việc đó.

Chính cha là người đã liên lạc với VOICE vào năm 2006 để báo cho biết là vẫn còn thuyền nhân Việt Nam ở Thái Lan. Và 12 năm sau, VOICE và cha vẫn đang cố hết sức giúp cho những người còn kẹt lại. Kể cả những thân phận tỵ nạn Việt Nam vừa mới phải bỏ nước ra đi.

Ông Trịnh Hội chia sẻ: “Thật lòng tôi rất thích công việc tôi hiện đang đảm trách cho VOICE. Bởi đơn giản vì tôi có dịp tiếp xúc và làm việc với những tấm lòng như cha. Trong suốt 12 năm qua.”

VOICE khởi động Chiến dịch Vận động Nhân quyền UPR năm 2017 tại châu Âu

13/9/2017 – Tiếp nối chiến dịch vận động quốc tế UPR (Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát) năm 2014, một phái đoàn vận động nhân quyền Việt Nam sẽ tới Đức, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Nauy, Bỉ và Cộng hoà Séc để cập nhật cho các cơ quan Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác về những điểm tiến bộ cũng như vi phạm của chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền kể từ lần kiểm điểm gần nhất năm 2014. Chiến dịch này cũng nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong nước cũng như quốc tế về tình hình nhân quyền và tù nhân lương tâm Việt Nam.

Chiến dịch này sẽ bắt đầu vào ngày sinh nhật của blogger đang bị cầm tù Nguyễn Hữu Vinh (tức Anh Ba Sàm), 15/9/2017, và sẽ kéo dài tới ngày 10/10/2017. Phái đoàn gồm có bà Lê Thị Minh Hà, vợ của ông Nguyễn Hữu Vinh, cùng với hai đại diện của VOICE là cô Anna Nguyễn và cô Đinh Thảo.

Đặc biệt, nhà hoạt động Đinh Thảo sẽ phát biểu trước Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Geneva, Thuỵ Sĩ vào ngày 19/9 để thu hút thêm sự chú ý đối với các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam. Đây là cơ quan liên quốc gia gồm 47 thành viên Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới. Bài phát biểu này sẽ được tường thuật trực tiếp.

Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế có liên quan, phái đoàn lần này nhắm tới việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về tình hình nhân quyền hiện tại của Việt Nam. Chúng tôi hy vọng chiến dịch vận động của chúng tôi sẽ mang lại những thay đổi tích cực, thúc đẩy chính phủ Việt Nam thực hiện tốt hơn nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ nhân quyền như một quốc gia thành viên đã tham gia các công ước nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Để biết thông tin chi tiết về phái đoàn và các hoạt động, xin vui lòng liên hệ qua địa chỉ email contact@vietnamvoice.org.

Tuyên bố của VOICE về phiên tòa của Blogger Mẹ Nấm

TUYÊN BỐ CỦA VOICE VỀ PHIÊN TÒA CỦA BLOGGER MẸ NẤM
NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2017

Blogger Mẹ Nấm đã bị kết án 10 năm tù giam sau phiên tòa chóng vánh hôm qua ở Việt Nam vì đã dám phê phán chính quyền, đòi hỏi minh bạch và trách nhiệm giải trình cũng như kêu gọi cải cách xã hội và chính trị thông qua các bài viết trên blog của bà. Mặc dù những bài viết này đều ôn hòa, bà Quỳnh đã bị kết tội “tuyên truyền chống nhà nước”, một tội hình sự trong Bộ luật Hình sự hà khắc của Việt Nam.

Chúng tôi kinh ngạc và cảm thấy bị xúc phạm trước bản án bỏ túi đối với Blogger Mẹ Nấm của tòa án Việt nam – một tòa án thậm chí đã không cho phép mẹ và hai con nhỏ của bà tham dự phiên xử. Mẹ bà chỉ được phép theo dõi phiên tòa qua màn hình tivi ở một phòng liền kề.

Chúng tôi kinh hoàng trước sự đối xử vô nhân đạo mà Blogger Mẹ Nấm đã chịu đựng kể từ khi bà bị bắt. Bà Quỳnh bị từ chối gặp luật sư trong suốt thời gian tạm giam và chỉ được gặp họ một thời gian ngắn trước khi phiên tòa diễn ra. Bà cũng không được phép mặc trang phục lựa chọn trong ngày xét xử, và thậm chí còn không được sử dụng băng vệ sinh trong suốt thời gian 8 tháng tạm giam. Nhà cầm quyền Việt Nam đã không hề giấu diếm ý định tước bỏ phẩm giá và lòng tự trọng của bà. Bà Quỳnh chỉ được gặp gia đình một ngày trước phiên tòa – lần đầu tiên cũng là duy nhất kể từ khi bà bị bắt vào tháng 10 năm 2016. Cuộc gặp chỉ kéo dài 5 phút.

Mặc dù các quyền cơ bản đã bị tước đoạt và vi phạm trầm trọng, đây là những gì Blogger Mẹ Nấm đã nói trước tòa: “Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nhưng dù được làm lại con vẫn sẽ làm như vậy… Một quốc gia chỉ tự cường khi nó luôn gắn liền với nền tảng một xã hội mà người dân có tự do và hạnh phúc. Tôi mong rằng mọi người sẽ lên tiếng và đấu tranh, vượt qua nỗi sợ hãi của chính bản thân mình để xây dựng một đất nước tươi đẹp hơn.”

Chúng tôi sẽ tiếp tục tranh đấu và vận động để Blogger Mẹ Nấm và tất cả các tù nhân chính trị khác của Việt Nam được trả tự do vô điều kiện. Nhưng quan trọng hơn, chúng tôi kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam hãy lắng nghe lời kêu gọi của Blogger Mẹ Nấm để tiếp tục tranh đấu cho quyền con người, vượt qua nỗi sợ hãi trong mỗi người, để một ngày nào đó Việt Nam sẽ là một quốc gia tự do và dân chủ – nơi không ai bị kết án và bỏ tù chỉ vì đơn thuần nói lên suy nghĩ của họ.

KÝ TÊN

1. VOICE
2. VOICE Việt Nam
3. VOICE Úc
4. VOICE Canada
5. VOICE Châu Âu
6. VOICE Na-uy

Xem bản đầy đủ tại đây: TUYÊN BỐ CỦA VOICE VỀ PHIÊN TÒA CỦA BLOGGER MẸ NẤM

Giới thiệu về văn phòng của VOICE tại Bangkok – Thái Lan

VOICE chính thức thành lập văn phòng thường trực tại Bangkok từ tháng 12 năm 2015 do Điều phối viên chương trình ASEAN, cô Anna Nguyen phụ trách. VOICE Bangkok chịu trách nhiệm về:

  1. Người tị nạn: Hỗ trợ nhân đạo và pháp lý cho người tị nạn Việt Nam ở Đông Nam Á.
  2. Vận động:
    a. Thực hiện các chương trình vận động nhân quyền cho Việt Nam cũng như lên tiếng cho các nhà bảo vệ nhân quyền đang trong nguy hiểm và tù nhân chính trị tại Việt Nam.
    b. Tìm kiếm các nguồn hỗ trợ nhân đạo cho các nhà bảo vệ nhân quyền đang trong nguy hiểm và gia đình các tù nhân chính trị.
    c. Đại diện cho các nhà bảo vệ nhân quyền đang trong nguy hiểm và các tù nhân chính trị Việt Nam, cung cấp thông tin đến LHQ thông qua các Thủ tục đặc biệt, như Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về Tự do Tư tưởng và Ngôn luận, Nhóm Làm việc về Bắt giữ Tùy tiện.
  3. Đào tạo: Tìm kiếm các cơ hội thực tập và đào tạo cho các học viên trong khóa đào tạo dài hạn tại Manila.

Những kết quả đã đạt được:

  • Giúp ít nhất 90 người tị nạn Việt Nam bị mắc kẹt 27 năm ở Thái Lan được tái định cư tại Canada (từ năm 2014)
  • Nhận được ít nhất 50.000 USD từ một số NGOs quốc tế và các hội đoàn để giúp đỡ các nhà bảo vệ nhân quyền đang trong nguy hiểm và gia đình các tù nhân chính trị
  • Hợp tác chặt chẽ với Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, và các NGOs quốc tế như Freedom House, Human Rights Watch (Tổ chức Theo dõi Nhân quyền), Forum Asia,  Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế) cho các mục đích vận động nhân quyền

Một số hình ảnh từ VOICE Bangkok:

Giới thiệu về văn phòng của VOICE tại Bangkok - Thái Lan

Giới thiệu về văn phòng của VOICE tại Bangkok - Thái Lan

 

Một tháng sống với công nhân Việt Nam tại Malaysia

Chuyến đi Malaysia của chúng tôi gồm 5 thành viên, đa số là những người trẻ. Và do thế cũng có chút bỡ ngỡ vào những ngày đầu nhưng rồi cũng thích nghi nhanh chóng. Mặc dù không thực sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhưng cũng đem đến cho chúng tôi nhiều kỷ niệm đẹp ở đây.

Tuần đầu tiên chúng tôi ở tại tiểu bang Melaka, ở đây nhiều công ty điện tử và thực phẩm, có rất nhiều công nhân Việt làm việc. Chúng tôi đã tiếp xúc với 3 nhóm công nhân: Một nhóm 10 người tại công ty điện tử MACSALE, một nhóm khác 8 người của công ty ROTI MANUFAC- chuyên về thực phẩm trà, cafe và đồ uống, nhóm cuối 20 người đến từ công ty sản xuất linh kiện điện tử MINAIK.

Bài chia sẻ của một cựu thực tập sinh của VOICE sau chuyến đi làm việc với công nhân Việt ở Malaysia.

Tuần thứ hai chúng tôi tiếp xúc với 3 nhóm công nhân tại Joho Baru (khu vực gần Singapore), cũng là khu vực có đông người Việt sinh sống và làm việc. Chúng tôi đã tiếp xúc với 2 nhóm tại công ty điện tử và loa VEGA (3 người), một nhóm ở công ty PLEXIT, cũng là công ty điện tử (5 người).

Một tháng sống với công nhân Việt Nam tại Malaysia (1)

Một góc khu nhà trọ của các công nhân

Ngoài ra, ở đây có nhiều người Việt qua mở đại lý gia công tổ Yến, thu hút nhiều lao động làm việc. Tuy nhiên cuộc sống và thu nhập khá hơn so với các công ty ở địa phương.

Các tuần tiếp theo, chúng tôi tiếp xúc một số phụ nữ Việt Nam hành nghề mại dâm tại tiểu bang Muar để tìm hiểu thêm về tình trạng mại dâm ở đây. Tôi cũng đã cố gắng tìm lên khu vực Penang, để gặp một nhóm khoảng 3 công nhân làm công ty về xích xe máy.

Những câu chuyện đáng nhớ

Trong thời gian ở đây, chúng tôi gặp được chị Ng, nhân viên công ty MINAIK. Chị bị công ty đuổi sau đợt đi khám bệnh do công ty đưa đi định kỳ, họ chỉ nói chung chung là không đảm bảo sức khỏe mà không đưa ra bất cứ lý do gì cụ thể. Họ đặt vé máy bay cho chị 5 ngày sau ngày khám bệnh, và tiền đó cũng trích từ tiền lương của chị, tất nhiên chị không được bồi thường gì thêm. Dù rất muốn giúp chị, nhưng thời gian quá gấp vì 2 – 3 hôm nữa là chúng tôi phải rời Malaysia, mà trong khi lịch chúng tôi sắp xếp gặp công nhân đã kín. Chúng tôi đành phải dành những ưu tiên khác. Tới bây giờ tôi vẫn cảm thấy áy náy và cảm thấy có chút bất lực.

Những ngày cuối cùng ở Johor Baru , nhờ người quen dẫn đi tiếp xúc một vài nhóm ở đây, chờ đến gần 8 giờ tối mà vẫn chưa thấy công nhân về. Hỏi ra mới biết công nhân ở đây tăng ca tới 10 giờ tối. Chúng tôi quyết định chờ tới lúc đó.

Thực ra trước đó, chúng tôi cũng đã gặp một hai công nhân. Nhưng họ ái ngại và có chút sợ sệt vì không hiểu rõ chúng tôi. Và không cho chúng tôi tiếp xúc trò chuyện nhiều. Mặc dù chúng tôi đã cố gắng giải thích cho họ.

Tới giờ công nhân về, chúng tôi gặp một chị trạc 30 tuổi. Đó là chị L, công nhân công ty Vega gần đó, chị nhiệt tình đưa chúng tôi về phòng trọ, nơi ở công ty cấp cho chị cùng với gần 15 người nữa.

Trong lúc trò chuyện, chị có đưa chúng tôi xem bản hợp đồng ký giữa chị và công ty môi giới tại Việt Nam.

Một tháng sống với công nhân Việt Nam tại Malaysia (1)

Bản hợp đồng ghi rằng “…công nhân không được tham gia các hoạt động chính trị, đi lễ nhà thờ, hội họp bất hợp pháp, đình công, lãn công, tự ý khiếu kiện tới Đại Sứ quán Việt Nam tại Malaysia..”. Tôi khá bất ngờ và có chút tức giận khi đọc những điều này, bởi vì những hoạt động này là hết sức bình thường đối với một con người. Hẳn những kẻ nghĩ ra những điều này không phải là một cá nhân hay một công ty có thể nghĩ ra, mà là cả một bộ máy mới có thể lo sợ những điều này có thể gây hại đến họ. Những công nhân, nếu họ thực hiện đúng những điều này thì họ sẽ sống dưới mức sống của một con người. Nghĩa là họ chỉ đi làm về, rồi ăn và ngủ chứ không có bất cứ một hoạt động tinh thần nào. Những điều mà đã được cả quốc tế công nhận trong Bản Tuyên Ngôn Nhân quyền 1948 mà Việt Nam cũng là một thành viên trong đó.

Tạm biệt chị, chúng tôi cố tiếp xúc thêm một nhóm nam công nhân gần đó nữa trước khi ra về.

Tuần kế tiếp, tôi theo một công nhân về phòng trọ của anh. Phòng được công ty xây cất cho công nhân giữa công trường. Nó nhỏ và hẹp. Trong cái nắng 40 độ ngoài trời, với những phòng nhỏ chắp vá bằng những miếng ván nhỏ, có phòng chứa tới 5 người với diện tích chưa đầy 20 mét vuông.

Một tháng sống với công nhân Việt Nam tại Malaysia (1)
Tình trạng vệ sinh không đảm bảo khi các toilet và nơi tắm chung lộ thiên.

Tổng quan tình trạng lao động Việt Nam ở Malaysia

Các công nhân Việt Nam ở Malaysia thường được làm những công việc gọi là 3D: Dirty, Dangerous và Difficult (Bẩn, Nguy hiểm, và Khó).

Nhức nhối nhất là tình trạng bị giới chủ giữ hộ chiếu. Các công nhân nói họ bị chủ giữ hộ chiếu ngay khi đáp xuống sân bay. Lấy lý do rằng công nhân giữ sẽ bị mất nên để họ giữ giùm (!). Nhiều công nhân bị hạn chế quyền đi lại khi không thể đi ra khỏi tiểu bang mình ở. Nhiều trường hợp gia đình đau ốm nhưng không thể về thăm vì không có bất cứ giấy tờ gì. Họ phải thế chân một khoản tiền bằng 3 tháng lương nếu muốn lấy lại hộ chiếu về nước. Điều đáng nói là có nhiều công nhân chấp nhận mất khoản tiền đó để lấy lại hộ chiếu nhưng vẫn không được trả lại. Nhiều công nhân bất mãn, họ bỏ trốn ra ngoài làm chui chấp nhận không có giấy tờ tùy thân trong người, do đó nhiều người bị cảnh sát bắt và xảy ra tình trạng tù lao động. Tất cả các trường hợp mà chúng tôi tiếp xúc đều bị chủ giữ hộ chiếu, và chỉ có vài trường hợp lẻ tẻ là được giữ hộ chiếu.

Việc giữ hộ chiếu của công nhân sẽ làm họ không dám nghỉ việc, giúp giới chủ dễ dàng quản lý công nhân và có số lượng lao động ổn định trong công ty. Và một điều quan trọng nhất là trả lương rất thấp cho công nhân. Lương tối thiểu của công nhân ở đây là 900RM/tháng, tương đương với 220$, họ bắt buộc công nhân phải làm 12 tiếng mỗi ngày. Đó là chưa tính các công nhân phải tự đóng thuế Levy (thuế dành cho người lao động làm việc tại Malaysia), tiền gia hạn hộ chiếu các công nhân cũng phải tự đóng.

Tình trạng phân biệt đối xử trong các công ty cũng rất phổ biến, tình trạng chèn ép giờ giấc, cắt tiền làm thêm, tiền thưởng nhất là đối với công nhân Việt nam, Myanmar và Nepal. Trong khi đó, công nhân Mã Lai và Trung Quốc thì không bị. Ở các tiểu bang này, các công nhân làm việc mà không có bất cứ công đoàn nào bảo vệ quyền lợi cho họ.

Đây cũng là tình trạng chung các công nhân gặp phải. Ở Việt Nam, muốn được sang Malaysia lao động, họ phải đóng khoản tiền từ 1500-2000 đô-la Mỹ và được hứa hẹn sẽ có một mức lương và cuộc sống tốt hơn. Nhưng một thực tế phũ phàng là ho phải ở những nơi chui rúc 30 – 40 người, mức lương thì không đúng hợp đồng. Các công nhân nói rằng họ đã phải ký một hợp đồng mới bằng tiếng Anh khi vừa tới sân bay và chỉ được phía công ty bên này giữ. Nhiều công nhân đã liên lạc với công ty môi giới ở Việt Nam phản ánh nhưng không được giải quyết.

Quá trình xuất khẩu lao động giữa Việt Nam và Malaysia

Nhờ vào chính sách chuyển đổi kinh tế đúng đắn kết hợp với một chính phủ năng động. Chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp điện tử và dịch vụ. Kinh tế Malaysia phát triển mạnh vào những năm 2000 và thường thiếu hụt trầm trọng lực lượng lao động. Malaysia đã phải nhập khẩu lao động từ các nước láng giềng trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Phải khách quan mà nói rằng, nguồn lao động từ nước ngoài đóng góp một vai trò không nhỏ trong sự phát triển kinh tế ở Malaysia.

Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang Malaysia làm việc từ năm 2002. Năm 2003, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Malaysia đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác lao động. Thực hiện Bản ghi nhớ này, Việt Nam đã đưa được trên 220.000 lao động sang làm việc tại thị trường này.

Đến tháng 8/2015 Việt Nam và Malaysia ký một Bản ghi nhớ mới để tiếp tục đưa lao động Việt sang thị trường này. Trong đó có điều khoản nói rằng “các công nhân Việt Nam sẽ được quyền giữ lại hộ chiếu khi lao động tại Malaysia” cùng với một số điều khoản khác qui định về điều kiện tuyển dụng lao động Việt Nam.

6 tháng sau khi 2 nước ký bản ghi nhớ này, chúng tôi tới đây. Nhưng dường như việc thực thi thỏa thuận này không có gì gọi là tiến triển. Các công nhân khi được hỏi, họ cũng không biết gì về thỏa thuận này. Các công ty vẫn tiếp tục giữ hộ chiếu của công nhân. Các công ty môi giới vẫn tiếp tục tìm người và đưa sang Malaysia.

Tôi thầm nghĩ có khi nào, bản ký kết này chỉ nhằm che mắt báo chí, cộng đồng thế giới về những vụ vi phạm lao động của họ?

Vì nhiều nghiên cứu của các tổ chức về quyền lao động khác đã chỉ rõ ra rằng, tình trạng buôn người ngày nay không còn giới hạn trong định nghĩa bắt cóc rồi đưa sang lao động khổ sai ở một nước khác nữa. Mà nó còn núp dưới danh nghĩa các hợp tác xuất khẩu lao động giữa các quốc gia. Vì lợi nhuận mà nó đem lại quá lớn. Điều này lý giải tại sao nạn buôn người ngày nay là một vấn nạn không dễ giải quyết.

Các công việc đã làm

Vì còn nhiều hạn chế về nhân sự và thời gian trong đợt công tác này, nên công việc của chúng tôi chủ yếu là tiếp cận công nhân và giải thích luật, các bản thỏa thuận mới của các quốc gia về vấn đề lao động tại Malaysia. Giải thích cho công nhân hiểu về quyền được giữ hộ chiếu, các định nghĩa về nghiệp đoàn, thế nào là một “nghiệp đoàn độc lập”.

Một tháng sống với công nhân Việt Nam tại Malaysia (1)
Các công nhân chơi thể thao, bóng đá

Chúng tôi cũng đã hướng dẫn công nhân cách đòi lại hộ chiếu. Giúp họ viết ra các bức thư bằng tiếng Anh gửi cho các chủ yêu cầu trả lại hộ chiếu. Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành thu thập tin tức, bằng chứng về tình trạng vi phạm lao động tại Malaysia để làm tư liệu hoặc các bản báo cáo. Và cuối cùng, chúng tôi đã đi thăm hỏi các tù nhân là lao động Việt Nam trốn ra ngoài đang bị nhốt ở các nhà tù Malaysia.

Chuyến đi này là một trải nghiệm thích thú nhưng cũng có chút buồn bã cho chúng tôi.

Thích thú vì nhìn thấy được tận mắt một xã hội giàu mạnh, tân tiến nhất nhì vùng Đông Nam Á. Được nhìn thấy toà tháp đôi nổi tiếng mà từ lâu ao ước được xem. Nhưng buồn vì nhìn thấy những cảnh đời bất hạnh của công nhân Việt Nam tại đây. Họ đã phải chịu mọi khổ nhọc để hàng tháng gửi tiền về giúp gia đình. Số tiền này cũng góp phần “xoá đói giảm nghèo” theo chủ trương của nhà nước. Nhưng ngược lại, họ không được bất cứ một cơ quan chính thức nào của nhà nước Việt Nam hướng dẫn quyền lợi của công nhân xuất khẩu lao động cũng như bảo vệ họ trước những đối xử bất công của giới chủ.Nói theo ngôn ngữ công nhân tại đây là họ bị môi giới Việt Nam “đem con bỏ chợ”.

Và càng buồn hơn khi chẳng thể giúp được họ nhiều.

Reprinted with author’s permission

VOICE Bangkok: Một gia đình tị nạn được đi tái định cư Mỹ

Một gia đình người Việt Nam tị nạn ở Thái Lan đã được thông báo chuyến bay của họ đến Hoa Kỳ sẽ bị hoãn lại 120 ngày do Sắc lệnh về xuất nhập cảnh của Tổng thống Donald Trump. Tuy nhiên VOICE đã đem lại hy vọng khi chuyến bay của họ vẫn được khởi hành từ Bangkok đi Los Angeles ngày 17 tháng Hai 2017.
Ban đầu, mặc dù vé đã được đặt cho gia đình anh T để khởi hành từ Bangkok đi Los Angeles, tuy nhiên sắc lệnh của ông Trump ký ngày 27 tháng Một đã dừng tất cả các cuộc nhập cảnh của người tị nạn để đánh giá lại theo Chương trình Tiếp nhận người tị nạn của Chính phủ Hoa Kỳ. Do đó hồ sơ của anh T đã bị hoãn ít nhất 120 ngày và được thông báo sẽ không có gì đảm bảo.

VOICE Thailand Một gia đình tị nạn được đi tái định cư Mỹ
Đại diện của VOICE và gia đình anh T ở sân bay Bangkok

Tuy nhiên, sau đó các thẩm phán liên bang phán quyết rằng Sắc lệnh của ông Trump là không hợp pháp nên hàng ngàn người tị nạn bị kẹt được tiếp tục quá trình tái định cư của họ, bao gồm cả gia đình anh T.

VOICE Thailand Một gia đình tị nạn được đi tái định cư Mỹ
Vợ và con trai anh T vui vẻ ngày xuất hành

Anh T rời khỏi Việt Nam vào năm 2012 do thường xuyên lo ngại bị bức hại và đã xin tị nạn ở Thái Lan. Một năm sau đó, anh được Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn UNHCR phỏng vấn và được trao quy chế tỵ nạn. Tháng 10 năm 2016, sau khi hoàn tất kiểm tra y tế và các thủ tục cần thiết, thì vợ và con trai của anh đã hội đủ điều kiện để tái định cư tại Hoa Kỳ.
Anh T và gia đình sẽ được cư trú ở bang Washington.

VOICE Australia giúp 18 thuyền nhân Việt bị tạm giữ tại Indonesia

Ba gia đình của chị Trần Thị Lụa, Trần Thị Thanh Loan, và Trần Thị Phúc quê Bình Thuận vượt biển để đi Australia từ 31/1/2017 tức mùng 4 Tết Âm lịch. Tuy nhiên đến 9/2/2017 chiếc tàu bị chết máy, họ ghé vào Indonesia để sửa và đang bị cảnh sát nước này tạm giữ.

Trả lời Đài Á Châu Tự Do RFA, chị Trần Thị Lụa cho hay chị xin tị nạn ở Úc vì chính quyền Việt Nam sẽ bắt chị ở tù sau khi chồng chị ra tù sau Tết. “Vì vậy tôi với cô Loan cũng có chồng ở tù thấy như vậy nên sợ quá, con cái thì có nguy cơ nó không cho đi học nữa” chị Lụa cho biết thêm.

Năm 2015, chị Loan, chị Phúc, và chị Lụa, đi trên 2 thuyền tỵ nạn khác nhau cách nhau vài tháng, mỗi thuyền đều có 46 người. Tháng 4/2015, Úc đưa thuyền nhân về bằng tàu hải quân HMAS Choules, và tháng 7 nhóm thuyền nhân thứ nhì bằng máy bay bay trong đêm. Trước đó, cả 2 thuyền bị Úc chặn lại trên biển. Trong một cuộc điều trần ở Quốc Hội Úc, giới chức Úc cho hay là giới chức Việt Nam cam kết với Úc rằng Việt Nam sẽ không truy tố họ. Tuy nhiên ngay khi bước xuống sân bay họ đã bị đưa thẩm vấn, và không lâu sau đó thì một số người bị đưa thẳng vào nhà tù.

“Nó lại nhốt tui ba tháng tại trại giam không cho về nhà. Nó đánh đập tui nữa. Nó nhận đầu tôi vô trong hồ nước”, chị Lụa nói với RFA.

VOICE Australia giúp 18 thuyền nhân Việt bị tạm giữ tại Indonesia
Chị Trần Thị Lụa (áo xanh) tại tòa án Bình Thuận ngày 1/9/2016

Ông Đoàn Việt Trung thuộc VOICE Australia cho hay: “Sau khi họ bị gởi về Việt Nam, giữa năm 2015 họ bắt đầu liên lạc với tôi, và từ đó đến nay nhiều lần chị Lụa và chị Loan nói với tôi là họ rất sợ hãi. Chị Lụa thì bị công an nhận nước, bị đánh đấm đến nỗi ho ra máu. Chồng của chị Loan bị công an đánh gãy chân trong tù, và một người đàn ông khác cũng bị gởi về năm 2015 cũng bị đánh gãy chân, cả hai nay đều liệt không đi được.”

Hiện đang có một số cá nhân Úc, Việt, và một số tổ chức giúp cho những người này, trong đó VOICE Australia là một.

Trong năm 2015 và 2016, văn phòng VOICE tại Úc giúp họ lên tiếng qua cơ quan truyền thông ABC và báo chí Úc, và truyền thông Việt Ngữ ở hải ngoại. Ngay sau đó, nhà nước Việt Nam đột nhiên cho chị Lụa và Loan hay sẽ hoãn đưa họ đi tù trong 1 năm, nhưng không nói lý do. Một số viên chức nhà nước đập bàn, chỉ mặt họ nói không được tiếp tục liên lạc với thế giới bên ngoài.

Trong mấy ngày qua, giới chức Indonesia nói với thuyền nhân là sứ quán Việt Nam đã liên lạc đòi Indonesia trao thuyền nhân vào tay nhà nước Việt Nam, khiến các thuyền nhân vô cùng sợ hãi.

VOICE Australia giúp 18 thuyền nhân Việt bị tạm giữ tại Indonesia
Tàu cá chở người tỵ nạn Việt ngoài khơi Tây Úc tháng 7/2015 – Ảnh BBC

Nếu bị phía Indonesia trả về Việt Nam “họ sẽ đối mặt với bản án từ 7 đến 10 năm tù giam”, ông Võ An Đôn, luật sư của các gia đình này, cho biết trên Facebook cá nhân.

Số 3 gia đình trên thuyền gồm 18 người có 8 người lớn và 10 trẻ em, trong đó có 1 em 3 tuổi và 1 em 4 tuổi, mới tuổi này nhưng phần lớn các em đã vượt biên 2 lần. Khi VOICE Australia hỏi thăm về những trẻ em trên thuyền, chị Lụa nói chúng sức khỏe bình thường, mặc dù có đôi lúc cũng bị đói khát và bị biển vật.

Dường như các trại giam tỵ nạn của Indonesia hiện đang quá tải, nên các thuyền nhân này hiện đang còn ở ngoài. Họ nói với VOICE Australia rằng họ mong sớm vô trại tỵ nạn, vì ở ngoài này họ rất sợ hãi sẽ bị đưa về Việt Nam.

11 Vietnamese Refugees Arrive in Canada from Thailand

On April 24, a third group of Vietnamese refugees arrived in Toronto, Canada. This is part of the group of the last Vietnamese boat people who had arrived in Canada last November 2014. This group consisted of 3 families made up of 11 people. After being stateless in Thailand for 25 years, they have been accepted into Canada to start their new lives

Việt – Phi ten years reunion

In 2005, nearly 2000 stateless Vietnamese boat people were resettled in the US under a special humanitarian program designed to end their statelessness after languishing for over 16 years in the Philippines. On January 18, 2015, on the 10th anniversary of their resettlement in the US, over 200 former refugees gathered at VOICE’s Executive Director, Hoi Trinh’s house to commemorate the event with their loved ones, former advocates, and friends and supporters such as Reverend Thich Nguyen Thao from Vancouver, Lily Le and Ann Pham of VOICE Canada, Atty. Tran Kinh Luan, Atty. Nguyen Quoc Lan, Fr. Dao, Fr. Trong, Musician Truc Ho, MC Nam Loc, etc. many of whom spent months and years in the 90s and 2000s to assist the group. It was a day long celebration with lots of singing, dancing, outdoor mingling and of course, eating. By the end of the day, along with festivities, they also raised a small fund for the refugees left behind in Thailand which will be given to VOICE.

Việt – Thái Refugee recap

40 years since the end of the Vietnam War and over 20 years after being stranded in Thailand, the last remaining Vietnamese Boat People have been accepted into Canada! The group is to be resettled in Vancouver, Edmonton, Ottawa, Calgary and Toronto – on 13 November 2014, the first group of 28 individuals arrived in Canada, the second group of 39 individuals joined them on 25 November 2014. The remaining families will be arriving in Canada later in 2015.